Ngày 15 tháng 4 năm 2009, Bộ Chính trị ra Thông báo số 242-TB/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2
(khoá VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, trong
đó đã khẳng định: Sau 12 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khóa
VIII, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta có bước chuyển biến tích cực, đạt được
những kết quả quan trọng, về cơ bản đã thực hiện được các mục tiêu, nhiệm vụ
nêu trong Nghị quyết. Tuy nhiên so với yêu cầu của Nghị quyết và yêu cầu phát
triển của đất nước, vẫn còn một số nội dung chưa đạt được. Vì vậy, đồng thời
với việc chỉ đạo ngành giáo dục cần sớm khắc phục những tồn tại, hạn chế yếu
kém; Bộ Chính trị cũng đã chỉ rõ bảy nhiệm vụ, giải pháp để phát triển giáo dục
đến năm 2020. Cũng trong Kết luận này, Bộ Chính trị giao Ban cán sự Đảng Chính
phủ xây dựng chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 và hoàn chỉnh
Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục, trình Quốc hội xem xét, quyết định.
Đây là những định hướng chỉ đạo rất quan trọng để
giáo dục Việt Nam
có thể hội nhập quốc tế vào năm 2020 khi nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp.
Thực hiện Thông báo số 242-TB/TW,
ngày 25 tháng 6 năm 2009, Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Nghị quyết Thực hiện Kết luận của Bộ Chính
trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII, phương hướng
phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020; Đồng thời chỉ đạo các sở giáo
dục và đào tạo, các đại học, trường đại học, học viện, trường cao đẳng, trung
cấp chuyên nghiệp khẩn trương, nghiêm túc tổ chức phổ biến, quán triệt và xây
dựng chương trình hành động thực hiện Thông
báo số 242-TB/TW của Bộ Chính trị.
2. Quốc hội thông
qua Nghị quyết về chủ trương, định hướng đổi
mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo
Tại
kỳ họp thứ 5, Chính phủ đã trình Quốc hội Đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai
đoạn 2009-2014. Mục tiêu tổng quát của Đề án quan
trọng này là: (1) Xây dựng cơ chế tài chính mới cho giáo dục,
nhằm huy động ngày càng tăng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của nhà nước và
xã hội để nâng cao chất lượng và tăng quy mô giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực sự coi phát
triển giáo dục là quốc sách hàng đầu; (2) Xây dựng hệ thống các chính sách để
tiến tới mọi người ai cũng được học hành với nền giáo dục có chất lượng ngày
càng cao. Đây là một đề án được đánh giá là có tính minh bạch, nhân văn, công
bằng và hiệu quả.
Ngày
19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 35/2009/QH12 về chủ trương
định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học
2010-2011 đến năm học 2014-2015, với 83,37% số
phiếu tán thành. Thực hiện Nghị quyết 35/2009/QH12 của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 1310/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm 2009 về việc điều chỉnh
khung học phí đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học công lập
thuộc hệ thống giáo dục quốc dân năm học 2009-2010. Đây là cơ sở rất quan trọng, làm căn cứ cho các trường xây dựng khung
học phí mới, tạo thêm nguồn lực cho các trường để nâng cao chất lượng đào tạo.
Đồng thời, ngày 03 tháng 12 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ cũng đã
ký Quyết định ban hành Kế hoạch xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật thực hiện
Nghị quyết số 35/2009/QH12 của Quốc hội.
Như vậy, một số chủ trương định hướng đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục
sẽ được thực hiện đúng lộ trình, bắt đầu từ năm học 2010-2011 đến năm học
2014-2015.
3. Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục
Ngày
8 tháng 10 năm 2009, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XII, Chính phủ trình Quốc
hội Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Giáo dục.
Nội
dung sửa đổi, bổ sung đã tập trung giải quyết một số vấn đề bức xúc hiện nay như: (1) Quy định
việc phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước
tiếp tục tăng đầu tư có hiệu quả và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non nói
chung và trẻ em 5 tuổi nói riêng, đặc biệt ở vùng miền núi và các vùng kinh tế,
xã hội còn nhiều khó khăn. (2) Bổ sung một số quy định chặt chẽ hơn về việc
biên soạn chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa; (3) Xác định trách
nhiệm của người đứng đầu các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp
phải bảo đảm có đủ giáo trình giảng dạy, học tập; (4) Bổ sung các quy định về yêu cầu công khai tiêu chuẩn chất lượng giáo
dục, kiểm định chất lượng giáo dục và xác định rõ nội dung quản lý nhà nước về
kiểm định chất lượng giáo dục; (5) Tách bạch hơn điều kiện thành lập nhà trường
và điều kiện cho phép hoạt động giáo dục. (6) Nâng cao chất lượng tổ chức và
hoạt động giáo dục, tạo hành lang pháp lý cần thiết nhằm đẩy mạnh đổi mới quản
lý để nâng cao chất lượng giáo dục. (7) Thực hiện phụ cấp thâm niên cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
Ngày 25 tháng 11 năm 2009, Quốc hội đã thông
qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Giáo dục. Luật sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2010.
4. Tổ chức thành công Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 39-CT/TW của Bộ Chính
trị về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh
phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình
tiên tiến
Ngày
18 tháng 12 năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 39-CT/TW của Bộ Chính trị về
tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng,
tổng kết và nhân điển hình tiên tiến, Hội nghị đã khẳng định, trong 5
năm qua (2004-2009) công tác thi đua trong toàn ngành đã có sự chuyển biến về
chất, công tác phổ biến, nhân điển hình tiến có bước tiến bộ vượt bậc. Ngành giáo
dục là ngành đầu tiên thực hiện nói không với bệnh thành tích thông qua việc
triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với cuộc vận động “Nói
không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là
một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực”.
Ngành
đã huy động được 2 Bộ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn
hoá Thể thao và Du lịch), 3 đoàn thể (Trung
ương Đoàn Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội khuyến học Việt Nam), 3 cấp
(trung ương, địa phương và cơ sở) cùng tham gia, từ đó đã tạo được cơ chế xã hội
bền vững trong việc giải quyết vấn đề học sinh bỏ học, đổi mới phương pháp dạy
học, phát
huy tính chủ động, tích cực, sự sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt
động xã hội,
tạo môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện, tăng cường giáo dục đạo đức, giáo
dục truyền thống, nhờ đó, đã khơi dậy và phát huy mạnh mẽ sức sáng tạo trong
dạy và học của giáo viên và học sinh, tạo động lực để đội ngũ cán bộ, giáo
viên, công nhân viên, sinh viên, học sinh trong ngành thực hiện tốt nhiệm vụ mà
Đảng,Nhà nước và nhân dân giao cho.
5. Đánh giá kết quả năm đầu tiên triển khai phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Sự
kiện quan trọng này được tổ chức trọng thể vào ngày 22 tháng 8 năm 2009 tại một
trong 5 di tích lịch sử văn hoá mà Bộ Giáo dục và Đào tạo hỗ trợ tôn tạo bảo
vệ, đó là Đền thờ nhà giáo Chu Văn An (trong quần thể di tích núi Phượng Hoàng,
huyện Chí Linh, Hải Dương) với sự tham dự của đại diện 5 Bộ, ngành phối hợp: Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch, Trung ương Đoàn Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,
Hội khuyến học Việt Nam và những đơn vị, cá nhân tiêu biểu trong thực hiện
phong trào có ý nghĩa này.
Phong
trào thi đua “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực” ngay từ khi triển
khai đã
được sự đồng tình, hưởng ứng của toàn ngành và toàn xã hội, vì vậy đã tạo nên
những chuyển biến rõ nét về quang cảnh trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn thân
thiện, về môi trường giáo dục nhân văn, về chất lượng dạy và học, về giáo dục
kỹ năng sống, về gìn giữ và phát huy truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc. Kết
quả sau một năm triển khai thực hiện đã có 40.637 trường học tham gia phong trào, trong đó có 5.506 trường được
chọn chỉ đạo điểm ở các địa phương; các cấp học đã trồng được hơn 2 triệu cây
xanh các loại; các trường đã nhận chăm sóc 2.846 bà mẹ Việt Nam anh hùng, gia đình thương
binh liệt sĩ và 13.060 di
tích lịch sử, văn hoá; sửa chữa hoặc xây mới 36.985 nhà vệ sinh (đạt tỷ
lệ 91% trong tổng số các trường học), trong đó có 28.944 nhà vệ sinh đạt chuẩn
(đạt tỷ lệ 77%). Các trò chơi dân gian, các bài hát, điệu múa truyền thống được đua vào
trong chương trình ngoại khoá ở các nhà trường. Các nội dung hoạt động của
phong trào thi đua “Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” ngày càng được nâng cao hơn về chất, đặc biệt
là việc phối hợp để thực hiện 3 đủ: “đủ ăn, đủ mặc, đủ sách vở”
cho mỗi học sinh, nhờ đó tỷ lệ học sinh bỏ học đã giảm đáng kể. Việc tổ chức Lễ
khai giảng với cả phần “Lễ” và phần “Hội” và tổ chức “Lễ tri ân và trưởng thành cho học sinh lớp 12” đã
đem lại những nét mới trong hoạt động giáo dục của nhà trường.
Ngành
giáo dục coi phong trào thi đua “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” là sự cụ thể hoá của phong trào
thi đua “Dạy tốt, học tốt” trong giai
đoạn hiện nay, là giải pháp đột phá để nâng cao giáo dục toàn diện, đặc biệt là
giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh với một cơ chế chính trị xã hội đủ mạnh
bởi sự tham gia của hai Bộ (Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) và ba Đoàn thể (Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Khuyến
học Việt Nam).
6. Triển khai đổi mới phương
pháp dạy học bốn môn: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Giáo
dục công dân
Năm 2009, Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã tổ Hội thảo về
quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông (ngày
03/01/2009 tại Nghệ An); Hội thảo về đổi
mới kiểm tra đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn Ngữ văn,
Lịch sử, Địa lí (ngày 17,18/4/2009 tại TP Cần Thơ); Hội thảo đánh giá sâu về chương trình, sách giáo khoa môn Giáo dục công
dân (ngày 20,21/4/2009 tại TP Đà Lạt).
Qua
hội thảo và thực tế khảo sát tại các địa phương cho thấy việc đổi mới phương
pháp dạy học tại các cơ sở giáo dục đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng,
nhiều giáo viên đã sử dụng máy vi tính vào việc thiết kế bài giảng, nhiều phần
mềm dạy học đã được ứng dụng; trang thiết bị dạy học, phòng bộ môn, phòng thí
nghiệm thực hành được sử dụng đạt hiệu quả cao.
Các
dự án giáo dục cũng tập trung cho vấn đề này bằng những thành phần cụ thể nhằm
nâng cao năng lực đổi mới phương pháp dạy học cho giáo viên. Cũng theo xu thế
này, các trường sư phạm đã vào cuộc một cách tích cực hơn cùng với việc đổi mới
ở trường phổ thông, tiến tới sẽ phải đi trước một bước trong đổi mới phương
pháp dạy học.
7. Tổ chức đánh giá chương trình, sách giáo khoa tiểu
học và trung học trên quy mô toàn quốc
Tháng
9 năm 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ
chức đánh giá toàn diện chương trình, sách giáo khoa (lần 2) sau 3 năm triển
khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới (lần thứ nhất tổ chức vào tháng 5 năm 2008).
Việc đánh giá được thực hiện từ các tổ
chuyên môn ở các trường đến các Phòng Giáo dục và Đào tạo và Sở Giáo dục và Đào
tạo; đồng thời có sự tham gia đánh giá độc lập của Hội Khuyến học Việt Nam, Hội
Cựu Giáo chức Việt Nam, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
Tiếp
thu các ý kiến góp ý, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã rà soát, chỉnh sửa sách giáo
khoa; triển khai mục “Góp ý
sách giáo khoa”
trên trang thông tin điện tử của Bộ; điều
chỉnh một số nội dung của chương trình, sách giáo khoa theo hướng giảm tải một
số môn học, tích hợp một số nội dung của các môn học và hoạt động giáo dục để
giảm khối lượng kiến thức và thời gian dạy học; điều chỉnh về cách thức kiểm
tra, đánh giá.
Bộ
đã biên soạn và ban hành tài liệu Hướng
dẫn dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông
nhằm giúp giáo viên định hướng đúng nội dung giảng dạy của các môn học, trên cơ
sở đảm bảo các yêu cầu tối thiểu, có thể nâng cao ở mức phù hợp với năng lực
nhận thức của các học sinh khá, giỏi. Các nhà trường đã căn cứ vào hướng dẫn
nói trên để tổ chức giảng dạy bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng được qui định
trong chương trình giáo dục phổ thông; bảo đảm cân đối giữa yêu cầu trang bị
kiến thức với việc rèn luyện kỹ năng và giáo dục thái độ cho học sinh; hướng
dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Tài
liệu này hướng dẫn này đã được triển khai ngay trong học kỳ I năm học 2009-2010
và được các cơ sở đánh giá là có tác dụng tốt trong đổi mới phương pháp dạy
học.
8. Ban hành Chương trình giáo dục mầm non mới và xây dựng
xong Đề án Phổ cập mẫu giáo cho trẻ 5 tuổi
Trên cơ sở nghiên cứu,
xem xét nội dung các chương trình giáo dục mầm non đã được ban hành, căn cứ vào
tình hình phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương, các vùng miền khác
nhau, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng chương trình giáo dục mầm non mới và
ngày 25 tháng 7 năm 2009 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Thông tư số
17/2009/TT-BGDĐT Ban hành Chương trình Giáo
dục mầm non. Chương trình mới này kế thừa những ưu điểm của các chương trình
giáo dục mầm non đã ban hành; là chương trình khung, mang tính định hướng và
mở, tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong việc xây dựng kế hoạch giáo
dục phù hợp với đặc điểm vùng miền. Đối với những địa phương có điều kiện về
đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất sẽ thực hiện Chương trình Giáo dục mầm non
mới bắt đầu từ năm học 2009-2010; ở
những nơi chưa đủ điều kiện thì tiếp tục triển khai Chương trình chăm sóc giáo
dục trẻ và Chương trình 26 tuần cho trẻ 5 tuổi. Trong 3 năm tới, Chương trình
Giáo dục mầm non mới sẽ được thực hiện đại trà ở tất cả các cơ sở giáo dục mầm
non trong cả nước.
Trong năm 2009, Bộ đã xây
dựng
xong Đề án Phổ cập mẫu giáo cho trẻ 5
tuổi. Mục
tiêu của Đề án là đảm bảo hầu hết trẻ em 5 tuổi ở mọi vùng miền được tới lớp để
thực hiện chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày đủ một năm học, nhằm chuẩn bị tốt nhất
về mặt thể lực, sẵn sàng về tâm lí, chuẩn bị tiếng Việt, đảm bảo chất lượng
nhập học phổ thông.
9. Lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ đến dự và chỉ đạo Hội
nghị Tổng kết năm học khối giáo dục đại học: Đổi
mới quản lý nhà nước là giải pháp đột phá để đổi mới giáo dục đại học.
Hội nghị Tổng kết khối giáo dục đại học năm học 2008-2009
được tổ chức tháng 8 năm 2009 tại Hội Nội, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã
đến dự và chủ trì Hội nghị. Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng đánh giá cao sự
đóng góp của ngành giáo dục và đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học trong đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời mong muốn giáo dục đại học, trước
yêu cầu mới, không dừng lại, không thỏa mãn mà phải nỗ lực để đáp ứng được nhu
cầu phát triển nhanh, toàn diện của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Thủ tướng đã chỉ đạo đổi mới quản
lý nhà nước là giải pháp đột phá để đổi mới giáo dục đại học.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã ban hành Nghị quyết của Ban
Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai
đoạn 2009-2012 và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Ban Cán sự
Đảng; triển khai thực hiện 3 công khai theo Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT ngày
07 tháng 5 năm 2009 (công khai cam kết chất lượng giáo dục và chất lượng giáo
dục thực tế được đánh giá, công khai các nguồn lực, công khai tài chính của cơ
sở giáo dục); đổi mới trong công tác tuyển sinh; đổi mới cơ chế tài chính, tăng
cường tự chủ tự chịu trách nhiệm của nhà trường; xây dựng thư viện giáo trình
điện tử; tăng cường đào tạo theo nhu cầu xã hội. Bộ cũng sẽ xây dựng quy chế
qui định rõ trách nhiệm của cấp Bộ (Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ ngành liên
quan), Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố có trường đại học, cao đẳng và bản thân
các trường đại học, cao đẳng.
Ngày 29 tháng 10 năm 2009,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ về Sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo và
nâng cao chất lượng đào tạo.
10. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của ngành
Ngày 01 tháng 6 năm
2009, Thủ tướng Chính Phủ đã ra Quyết định số 698/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Kế
hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm 2015 và
định hướng đến năm 2020. Đây là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với
việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn ngành.
Thực hiện đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức tập huấn
cho hơn 5.000 cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và giáo viên
của 35 Sở Giáo dục và Đào tạo; ký kết thỏa thuận hợp tác với Tập đoàn
Intel
triển khai Chương trình giáo dục điện tử; phối hợp với Tổng công ty
Viễn thông
Quân đội Viettel tài trợ miễn phí việc kết nối Internet băng thông
rộng, thiết
bị kết nối và thuê bao hàng tháng tới tất cả các trường phổ thông, mầm
non, các
phòng giáo dục và đào tạo, các trung tâm giáo dục thường xuyên và trung
tâm
giáo dục cộng đồng (giá trị hỗ trợ khoảng 330 tỷ/năm). Đến nay, có
khoảng 25.000 trường phổ thông và
mầm non (chiếm 64%) trong tổng số 39.000 trường được kết nối và sử dụng
Internet miễn phí. Với thành tựu này Việt Nam là một trong số ít nước
trên thế giới sẽ nối mạng và cho truy cập Internet miễn phí
cho tất cả các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông.
Bộ cũng
đã triển khai hệ thống phần mềm hỗ trợ xếp thời khóa biểu cho các trường phổ
thông của 35 tỉnh, thành; cung cấp cho toàn ngành các phần
mềm quản lý học sinh; xây dựng hệ thống họp và đào tạo qua mạng; phát động cuộc
thi thiết kế bài giảng điện tử e-Learning trên phạm vi toàn quốc. Bộ đã thực hiện đề án các
trường tham gia xây dựng thư viện giáo trình điện tử dùng chung, đến nay đã có
trên 1.100 giáo trình trên mạng để giảng viên và sinh viên sử dụng, đã có trên
13 triệu lượt người truy cập.
11. Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị
Bộ trưởng Giáo dục các nước Á- Âu lần thứ 2 (ASEMME2)
Trong hai ngày 14 và 15 tháng 5 năm 2009 tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị Bộ
trưởng Giáo dục các nước Á- Âu lần thứ 2 (ASEMME2) với khẩu hiệu: "Chia sẻ kinh
nghiệm và những bài học thực tiễn về giáo dục đại học giữa
các quốc gia ASEM". Hội nghị
đã nhận được sự quan tâm và tham dự của 177 đại biểu quốc tế đến từ 37 quốc gia
thành viên và 6 tổ chức quốc tế có liên quan và hơn 100 đại biểu Việt Nam. Thủ
tướng Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã tham
dự khai mạc, phát biểu và chỉ đạo Hội nghị.
Hội nghị ASEMME2
tại Việt Nam được các đại biểu quốc tế đánh giá là thành công vượt bậc, thể
hiện: (1) Quy mô, số lượng đại biểu tham dự đông đảo (43 đoàn tham dự ASEMME 2
so với 29 đoàn tại Hội nghị lần thứ 1 tại Đức); (2) Cách thức tổ chức, tiếp đón
đại biểu trọng thị, chu đáo của nước chủ nhà; (3) Nội dung Hội nghị rất cụ thể,
sâu sắc và có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy hợp tác Á- Âu về giáo
dục; (4) Đặc biệt, từ ý tưởng đề xuất của nước chủ nhà Việt Nam, Hội nghị đã
thảo luận và nhất trí cao việc thành lập Ban thư ký ASEM về giáo dục, dự kiến
bắt đầu triển khai vào năm 2010.
12. Hội nghị Hội đồng giáo giới các nước ASEAN lần
thứ 25
Hội nghị Hội đồng
giáo giới các nước ASEAN lần thứ 25 được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 11 và 12
tháng 12 năm 2009, do Công đoàn Giáo dục Việt Nam đăng cai tổ chức, tới dự có
các đại biểu là Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng Liên đoàn
Lao động Việt Nam; 10 nước trong Hội đồng giáo giới ASEAN với 278 đại biểu tham
dự; về phía nước chủ nhà có gần 300 đại biểu là Giám đốc, Chủ tịch Công đoàn
Giáo dục các tỉnh, thành phố, các trường đại học, cao đẳng và đơn vị trực
thuộc.
Trong bối cảnh tình
hình khu vực và quốc tế đang suy thoái kinh tế ảnh hưởng đến phát triển giáo dục,
Hội đồng giáo giới ASEAN đã khẳng định quyết tâm tiếp tục đẩy mạnh hợp tác,
phối hợp hành động nhiều mặt, ứng phó với suy thoái kinh tế toàn cầu nhằm đảm
bảo phát triển bền vững giáo dục. Đồng thời cam kết đẩy nhanh quá trình liên
kết nội khối, đưa hiến chương ASEAN vào cuộc sống, thực hiện lộ trình xây dựng
cộng đồng ASEAN vào năm 2015, hướng tới một cộng đồng năng động, hiệu quả, đặc
biệt tăng cường hợp tác giáo dục đào tạo nguồn nhân lực. Kết quả Hội nghị đã góp
phần nâng cao vị trí của giáo dục Việt Nam trong các nước ASEAN.
Nguồn Bộ Giáo dục và Đào tạo